Nghệ thuật và sức mạnh của thơ trong cuộc sống

Đánh giá bài viết

Nghệ thuật và cuộc sống

Nghệ thuật có mục đích làm đẹp cuộc sống và mang ý nghĩa sâu sắc đối với con người. Do đó, nghệ thuật luôn liên quan đến cuộc sống. Bởi cuộc sống thường bị chính trị chi phối, nghệ thuật cũng thường gắn với chính trị. Trong cuộc tranh luận nghệ thuật nổi tiếng ở thế kỷ XX, ông Hải Triều đã viết: “Nói nghệ thuật đứng ngoài cuộc sống, đứng ngoài chính trị là phi lý, là nguỵ biện, và thưa ông T.S., chính là gian trá!”. Riêng với thơ, sự gắn bó với cuộc sống và chính trị rất rõ ràng.

Truyền thống thơ và đánh giặc

Việt Nam có nhiều truyền thống quý báu. Hai truyền thống nổi bật nhất là đánh giặc và làm thơ. Truyền thống đánh giặc đã được thế giới biết đến và khâm phục. Còn truyền thống thơ ca cũng rất đáng kể. Chúng ta đã có thơ ca từ khi chưa có chữ viết. Từ ca dao dân ca đồ sộ và phong phú đến bài thơ Nam quốc sơn hà, thơ đã nuôi dưỡng tâm hồn dân tộc mấy nghìn năm. Trong cuộc chống Mỹ cứu nước, mỗi năm, dân tộc ta đón nghe lời thơ chúc mừng năm mới của Hồ Chủ tịch lúc giao thừa. Lời thơ “Mừng xuân 1968” của Bác: “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta” đã trở thành khẩu hiệu hành động của dân tộc.

Thơ và cuộc sống

Thơ và cuộc sống càng khiến cho nhau sinh động hơn. Những câu đối trao duyên đã tồn tại hàng nghìn năm vẫn mang sự tình tứ, ý nhị: “Bây giờ mận mới hỏi đào / Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?”. Đáp lại: “Mận hỏi thì đào xin thưa / Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”. Thơ Hồ Xuân Hương là một điển hình thơ gắn bó với đời sống, đến mức được dân gian hóa. Trả lời những chú em trêu ghẹo bằng những câu thơ trác việt: “Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ / Lại đây cho chị dạy làm thơ / Ong non ngứa nọc châm hoa rữa / Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa” … Kiệt tác Truyện Kiều, theo nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai là một trong những tác phẩm thơ được lưu truyền rộng rãi nhất trong lịch sử thi ca thế giới. Trong suốt hàng trăm năm ở Việt Nam, từ những nhà nho trí thức đến những phụ nữ bình dân không biết chữ đều thuộc “Kiều”, có thể đọc xuôi và đọc ngược. Có những câu châm ngôn vừa xuân sắc, vừa xuân thì như: “Giữa thủa mộng mị hương hoa / Đã đời trăm tuổi, thức cả đêm tròn”. Đó chính là sức mạnh của thơ ca trong tinh thần dân tộc. Thơ đã từng nổi lên gần như quyết định đời sống tinh thần của dân tộc trong lịch sử.

Xem thêm:   Tâm sự của Sách: Tải miễn phí cuốn sách "Nếu Biết Trăm Năm Là Hữu Hạn" của Phạm Lữ Ân

Khi thơ gắn kết với cuộc sống

Nửa đầu thế kỷ XX, hai giai thoại nổi tiếng về thơ và cuộc sống đã xảy ra. Thi sĩ Tản Đà đăng bài thơ “Rau sắng chùa Hương” trên báo và được một người giấu tên gửi rau sắng đến, kèm theo một bài thơ, và thi sĩ đã viết thơ tạ ơn. Giai thoại nữ sĩ Hằng Phương gửi biếu Hồ Chủ tịch những trái cam ngày đầu đất nước độc lập và được Người làm thơ đáp lại: “Cảm ơn bà tặng gói cam / Nhận thì không đúng, từ làm sao đây / Ăn quả nhớ kẻ trồng cây / Phải chăng khổ tận đến ngày cam lai” … Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nổi tiếng vận dụng thơ Kiều trong những hoàn cảnh thích hợp. Một đất nước có truyền thống thơ gắn bó với cuộc sống như thế, việc chọn một ngày (Rằm tháng Giêng) để tôn vinh thơ là có ý nghĩa. Ngày Thơ đã trở thành một sự kiện phong phú, ngày càng có sự ủng hộ và hiểu biết sâu sắc từ mọi người.

Sức mạnh của thơ trong cuộc sống

Thơ ra đời do yêu cầu của cuộc sống, vì vậy thơ phải trở về cuộc sống. Bất kể lĩnh vực nào có thành tựu, đều cần có cả đỉnh và nền. Đỉnh của thơ, là những tập thơ hay của các thi sĩ. Còn nền, là số lượng người sáng tác thơ và quần chúng yêu thơ. Tất nhiên, số lượng người làm thơ luôn đông hơn các thi sĩ. Điều đó không sao cả! Viết vài bài thơ để làm cuộc đời thêm vui, để mỗi người yêu thích cuộc sống là điều tốt. Chúng ta có Hội Nhà văn của các nhà thơ, nhưng cũng cần có lớp nhóm yêu thích thơ. Chỉ cần không nhầm lẫn mục đích và ý nghĩa hoạt động của hai tổ chức này là đủ. Trong hàng triệu sáng tác thơ của quần chúng, cũng có những hòn ngọc. Ngược lại, trong sáng tác của các thi sĩ cũng đôi khi có những tác phẩm không đạt. Điều đó là bình thường trong cuộc sống.

Xem thêm:   Tóm tắt & Đánh giá truyện ngắn Cánh Đồng Bất Tận - Nguyễn Ngọc Tư

Thơ là kinh nghiệm sống

Khi hoàng giáp đi sứ Trung Quốc, Triều Trần đã viết bài thơ Quy Hứng nổi tiếng: “Dâu già lá rụng, tằm vừa chín / Lúa sớm bông thơm cua béo ghê / Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt / Dẫu vui đất khách chẳng bằng về”. Mọi người nhận định rằng bài thơ này thể hiện tình yêu quê hương của ông suốt đời. Làm quan mà vẫn nhớ quê hương là điều đáng quý. Nhớ đến thời điểm cụ thể như lá dâu rụng, tằm chín thập, càng quý hơn. Không phải ai cũng có thể viết những câu thơ như vậy. Phải là người thực sự đã trải qua cuộc sống ở quê hương, đã gắn bó với ruộng đồng, như chăn trâu, bắt cá dưới ánh trăng thanh, những ngày nắng gió mới có thể viết được như vậy.

Khi tam nguyên Yên Đổ vịnh mùa thu, được một tiếng trên không ngỗng nước, bâng khuâng thương nhớ. Điều này không phải ai cũng có thể viết được ở bất kỳ tuổi nào. Phải là người đã trải qua nhiều mất mát, đổi thay, chứng kiến nhiều khó khăn trong cuộc sống mới có thể viết như vậy. Hai câu thơ này mang trong mình nỗi buồn thương nhớ của một đời, của một thời đại. Chỉ có người trong cuối đời mới có thể viết được như vậy.

Khi Tố Hữu đến chùa Hương và viết hai câu thơ “Ước gì đời mãi tươi xanh lá / Thanh thản chùa Hương cả thế gian”, đó là hồn nhiên của một đời gian khổ, khát khao với tự do, ước vọng hòa bình. Tố Hữu và bạn đời đã đấu tranh vì ước mơ đó, đến khi về già, họ mới có thể viết những câu thơ ấy.

Xem thêm:   Nguyễn Du: Một cuộc đời thơ huy hoàng khắc sâu vào trái tim văn chương

Thơ là kinh nghiệm sống của một đời

Nhớ lại trước đây, trong một cuộc thảo luận đã được đăng báo, một số nhà thơ và nhà phê bình phê phán thơ của Trần Đăng Khoa tuổi học trò chưa có tư tưởng cao siêu, mới lạ. Đúng vậy, không ai mong đợi một nhà thơ còn trẻ tuổi có triết lý sâu xa. Hàng triệu người yêu thơ Trần Đăng Khoa ở mọi thế hệ chỉ yêu cái tinh thần trong trẻo, tươi trẻ của những hình tượng mới lạ, cảm xúc mới mẻ. Như Tố Hữu đã viết: “Ông giời đã mượn cái miệng của Khoa để làm thơ cho người lớn đọc”.

Nếu Trần Đăng Khoa ở tuổi già, chưa chắc đã được mọi người yêu mến. Thơ của Khoa thuở nhỏ chỉ là sự thể hiện tâm hồn trước thiên nhiên, trước mọi người và trước cuộc sống. Khoa chưa có nhiều trải nghiệm, nhưng yêu cầu sự sâu xa là không thể. Nhưng bây giờ, khi Trần Đăng Khoa đã tròn 60 tuổi, chúng ta tin tưởng rằng thơ của ông sẽ trở nên chín chắn và sâu sắc. Điều này dựa trên việc ông đã từng viết những câu thơ như: “Biết đâu ta buồn như đá / Biết đâu đá buồn như người” và “Có bao chàng trai trẻ / Cứ lặng thinh mà già”. Những nhà thơ thực thụ, mỗi câu thơ đều mang trong mình kinh nghiệm sống cả đời. Nhưng để thấy được điều đó, chúng ta cần có đôi mắt xanh.

Related Posts