Nhất sĩ, nhì nông, tam công, tứ cổ

Sử dụng các từ ngữ đa dạng và thay đổi cấu trúc câu

Trong một buổi lễ cúng cô hồn diễn ra vào tháng 7 âm lịch gần đây, tôi đã nghe câu trong bài văn tế “Trên đến bậc vương hầu khanh tướng/ Dưới đến người sĩ cổ nông công”. Tôi muốn biết từ “cổ” trong cụm từ “sĩ cổ nông công” ở đây có ý nghĩa gì. (Nguyễn Hải Lý, Sơn Trà, Đà Nẵng).

Một cảnh buôn bán ở Hà Nội xưa. Nguồn: Tâm sự của Sách

Câu trả lời

Hai câu trên xuất hiện trong bài Văn tế Cô hồn, một bài lễ cúng có truyền thống tại nhiều chùa Phật giáo ở Việt Nam. Đoạn đầu của bài viết là như sau:

“Từng nghe đạo cả, kỉnh thuật lời quê
Cõi giang sơn thủy lục ê hề
Nỗi hồn phách tử vong ngao ngán
Trên đến bậc vương hầu khanh tướng
Dưới đến người sĩ cổ nông công
Nào kẻ ti nào người tôn
Nào là nam, nào là nữ
Hoặc có kẻ buộc mình trong linh ngữ
Hoặc có người sẩy bước chốn sa trường
Hoặc sa hầm, sa mương
Hoặc trúng thang, trúng thuốc…”

“Sĩ cổ nông công” đề cập đến bốn loại nghề xếp hạng từ cao đến thấp trong xã hội thuở xưa gồm: nhất sĩ, nhì nông, tam công, tứ cổ (nhất sĩ: nhóm trí thức; nhì nông: người làm nghề nông; tam công: người làm việc thủ công; tứ cổ: người kinh doanh).

Cũng có tài liệu ghi “Nhất sĩ, nhì nông, tam công, tứ thương”. Lý do là trước kia, các nhà buôn hoặc thương nhân, trong tiếng Hán được gọi là “thương cổ” hoặc đơn giản là “cổ”.

Xem thêm:   Top 10 truyện Ngôn tình hay nhất mọi thời đại bạn không thể bỏ lỡ

Theo từ điển Hán Việt của Thiều Chửu, một cuốn từ điển dùng rất phổ biến, cổ được giải thích như sau: “Cửa hàng, nơi để hàng để khách đến mua được gọi là cổ, ví dụ như thương cổ, là buôn bán, đem hàng đi bán được gọi là thương, bán ngay tại chỗ được gọi là cổ. Sĩ nông công thương là bốn tầng lớp chính trong xã hội xưa dưới triều đại quân chủ, còn được gọi là tứ dân, nghĩa là 4 tầng lớp dân.

Tuy nhiên, nhiều tài liệu ghi “Nhất sĩ, nhì nông, tam công, tứ cổ” vì âm điệu nghe dễ chịu hơn (là “tứ thương”).

Có dấu vết của “tam công, tứ cổ” có thể tìm thấy trong bài thơ Hương sử ca của làng Quảng Xá, xã Tân Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Bài thơ với 164 câu song thất lục bát này bắt đầu bằng hai câu tự hào: “Làng Quảng Xá là làng trù mật/Cách phong lưu văn vật ai tày”. Dân làng tự hào vì làng mình có nhiều nghề: “Dù có nằm cách xa ngàn dặm/ Vẫn thu lời và ghi vào lịch sử/ Bốn nghề nhất sĩ, nhì nông/ Tam công, tứ cổ đầy đủ trong làng này”.

Một số tài liệu ghi nhầm thành “tứ cố” (dấu sắc). Ví dụ: “Nhất sĩ, nhì nông, tam công, tứ cố/ Làm giàu có, ăn cỗ có phần/ Có phúc thời mới có phần/ Một lần không chín, chín lần không nên”.

Xem thêm:   Review phim Nhật Ký Bán Máu

Ở đây, từ “cổ” đã bị ghi sai thành “cố”, có nghĩa là quay lại hoặc nhìn quanh. Ví dụ, trong thành ngữ “tứ cố vô thân” nghĩa là “đơn độc, không có ai thân thích”. Ở đây, “tứ cố” có nghĩa là quan sát kỹ cả bốn phía.

ĐNCT

Related Posts